Có những yếu tố nào gây nên chứng huyết khối tĩnh mạch

benh-huyet-khoi-tinh-mach

là tình trạng tắc nghẽn một tĩnh mạch do cục máu đông được vận chuyển trong dòng máu từ một nơi khác đến. sâu xảy ra khi cục máu đông được hình thành và làm tắc tĩnh mạch chi dưới hay tĩnh mạch chậu. Khi cục máu đông bị bóc tách ra khỏi thành mạch, nó có thể dẫn đến thuyên tắc phổi, gây tử vong.

Tình trạng máu đông cục gây tắc tĩnh mạch có thể xảy ra ở những thai phụ ít vận động, bị suy tim ứ huyết hay chấn thương. Một số người làm thụ tinh trong ống nghiệm cũng gặp chứng này sau chuyển phôi thành công.

Nguyên nhân khởi phát tình trạng huyết khối tĩnh mạch chưa được hiểu rõ. Nhưng nguy cơ này thường tăng lên trong thai kỳ. Lúc này, thai phụ có những thay đổi như tăng nồng độ yếu tố đông máu và chất hoạt hóa quá trình đông máu (nhằm thúc đẩy quá trình đông máu, ngăn ngừa hiện tượng chảy máu trong khi sinh); giãn nở tĩnh mạch, hệ thống tĩnh mạch trì trệ do sự chèn ép của tử cung. Những yếu tố này làm cho nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng gấp 3 lần trong thai kỳ. Vào nó dễ dẫn đến tử vong.

Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến huyết khối tĩnh mạch

  • Tình trạng bất động: Các cơ chân hoạt động như hệ thống bơm để đẩy máu tĩnh mạch ở chi dưới trở về tim. Sự bất động của các cơ chân đưa đến tình trạng ứ máu tĩnh mạch, gây huyết khối làm viêm tắc tĩnh mạch. Tình trạng bất động thường xảy ra trong phẫu thuật, bệnh nhân nằm nghỉ trên giường kéo dài và không thay đổi tư thế trong một thời gian dài.
  • Sự bất toàn hệ thống tĩnh mạch: Tĩnh mạch giãn, hệ thống van bất toàn là yếu tố làm tăng nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
  • Suy tim ứ huyết: Trong bệnh này, cung lượng tim bị giảm, dẫn đến giảm lượng máu từ tĩnh mạch chi dưới trở về tim.
  • Chấn thương: Chấn thương trực tiếp ở chi dưới có thể dẫn đến sự hình thành cục máu đông và gây viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
  • Tình trạng tăng đông máu: Bệnh lý ác tính, sử dụng oestrogen, hội chứng tăng độ nhớt của máu… có thể gây tình trạng tăng đông máu, làm tăng nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.

Bệnh nhân tắc tĩnh mạch do huyết khối thường đến khám vì đau và sưng một chân. Các triệu chứng thường không rõ ràng. Ép cơ cẳng chân thấy chân bị căng đau trên chỗ ép. Để chẩn đoán, cần làm siêu âm Doppler mạch máu. Kỹ thuật này là có thể cho thấy các cục máu đông trong lòng mạch và giảm dòng chảy trong tĩnh mạch. Biện pháp chụp tĩnh mạch cản quang cũng được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu. Tuy nhiên, thủ thuật này gây đau, có biến chứng.

Sau khi xác định bệnh, bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch sâu được dùng thuốc kháng đông để phòng ngừa sự hình thành cục máu đông và thuốc tan huyết để làm tan cục máu đông đã hình thành. Việc dùng thuốc phải rất thận trong theo hướng dẫn của bác sĩ. Bệnh nhân cần đánh răng thật nhẹ nhàng để tránh chảy máu, không sử dụng thuốc kháng viêm non-steroid vì các thuốc này sẽ làm giảm hoạt động của tiểu cầu và tăng nguy cơ chảy máu.

Huyết khối tĩnh mạch nông không được chỉ định điều trị với thuốc kháng đông. Bệnh nhân cần giữ chân ở tư thế cao, chườm nóng và sử dụng salicylate.

Để phòng bệnh, nên tránh nằm yên trên giường trong thời gian dài mà phải tăng vận động. Mang loại bít tất đặc biệt giúp chèn ép tĩnh mạch nông, làm cải thiện dòng chảy ở tĩnh mạch sâu, giảm nguy cơ huyết khối. Tập thể dục bàn chân, tránh ngồi bắt chéo chân trong thời gian dài vì có thể làm giảm sự dẫn truyền máu ở tĩnh mạch sâu.

Bệnh nhân có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm sẽ có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch cao hơn bình thường. Chế độ vận động hợp lý sẽ giúp làm giảm nguy cơ này.

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>